Đắk Lắk: Phát triển chăn nuôi hiện đại phải bắt đầu từ năng lực kiểm soát môi trường

MTXD - Với 66 dự án chăn nuôi đã được chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Đắk Lắk đang đứng trước cơ hội hình thành ngành sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ và liên kết theo chuỗi. Nhưng phía sau đà tăng trưởng ấy là áp lực ngày càng rõ về nước thải, chất thải

MTXD - Với 66 dự án chăn nuôi đã được chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Đắk Lắk đang đứng trước cơ hội hình thành ngành sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ và liên kết theo chuỗi. Nhưng phía sau đà tăng trưởng ấy là áp lực ngày càng rõ về nước thải, chất thải rắn, mùi hôi, dịch bệnh và sức chịu tải của môi trường. Bài toán đặt ra không chỉ là mở rộng đàn vật nuôi, mà phải xây dựng được hệ thống quản trị môi trường đủ năng lực đi cùng từng dự án, từng trang trại và toàn bộ chuỗi sản xuất.

Ngày 6/11/2026, tại phường Buôn Ma Thuột, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường cùng các đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn “Phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững gắn với bảo vệ môi trường khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”. Sự kiện quy tụ đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người chăn nuôi; đồng thời mở ra không gian trao đổi về một vấn đề có ý nghĩa lâu dài: làm thế nào để tăng trưởng ngành chăn nuôi mà không chuyển chi phí môi trường sang cộng đồng và các thế hệ tương lai.

Các đại biểu tham dự Diễn đàn “Phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững gắn với bảo vệ môi trường khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”, tổ chức tại Đắk Lắk ngày 6/11/2026.

Quy mô sản xuất tăng nhanh, áp lực môi trường không thể xem nhẹ

Theo số liệu được trình bày tại diễn đàn, khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên hiện có khoảng 468 trang trại chăn nuôi quy mô lớn. Năm 2025, tổng đàn bò của 6 tỉnh, thành phố trong khu vực đạt khoảng 2,2 triệu con, tương đương 37% tổng đàn cả nước; đàn lợn đạt khoảng 5 triệu con, chiếm 19%. Những con số này cho thấy chăn nuôi đã trở thành một lĩnh vực sản xuất quan trọng, có khả năng tạo việc làm, thúc đẩy dịch vụ đầu vào, chế biến và lưu thông hàng hóa.

Riêng tại Đắk Lắk, toàn tỉnh có 66 dự án chăn nuôi được chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; trong đó 30 dự án đã hoàn thành, đi vào hoạt động, với tổng vốn đăng ký hơn 4.034 tỷ đồng. Đến cuối tháng 10/2026, tổng đàn vật nuôi chính ước đạt hơn 23,47 triệu con, gồm khoảng 29.690 con trâu, 389.090 con bò, hơn 1,25 triệu con lợn và trên 21,8 triệu con gia cầm. Sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 401.920 tấn trong năm 2026, tăng đáng kể so với mức 292.079 tấn năm 2021.

Đà tăng trưởng ấy phản ánh sức sản xuất và khả năng thu hút đầu tư của địa phương. Tuy nhiên, quy mô càng lớn thì lượng chất thải phát sinh càng tập trung, yêu cầu xử lý càng nghiêm ngặt. Nếu hạ tầng thu gom, lưu chứa và xử lý không được thiết kế tương xứng với công suất thực tế, nguy cơ ô nhiễm có thể xuất hiện ngay trong quá trình vận hành, thay vì chỉ là hệ quả ở giai đoạn cuối.

Đáng lưu ý, chất thải chăn nuôi không chỉ gồm phân, nước tiểu và nước rửa chuồng. Hoạt động sản xuất còn phát sinh thức ăn thừa, xác vật nuôi, bao bì, vỏ chai lọ thuốc thú y, hóa chất sát trùng và bùn thải từ công trình xử lý. Mỗi nhóm chất thải có đặc tính và yêu cầu quản lý khác nhau; vì vậy, cách làm chung chung hoặc chỉ tập trung vào một công đoạn sẽ khó bảo đảm hiệu quả lâu dài.

Một khu trang trại chăn nuôi nhìn từ trên cao. Việc bố trí công trình xử lý, khu lưu chứa chất thải và khoảng cách an toàn cần được tính toán đồng bộ với quy mô hoạt động.

Kiểm soát từ đầu nguồn: điều kiện để trang trại vận hành bền vững

Trong quản lý môi trường chăn nuôi, xử lý cuối đường ống là cần thiết nhưng chưa đủ. Cách tiếp cận hiệu quả phải bắt đầu từ khâu lựa chọn địa điểm, quy hoạch, thiết kế chuồng trại, xác định công suất, cân đối nguồn nước và xây dựng phương án thu gom chất thải. Một dự án chỉ thực sự có tính bền vững khi năng lực xử lý được tính toán theo quy mô đàn vật nuôi và điều kiện tiếp nhận của khu vực, thay vì đầu tư hình thức để đáp ứng thủ tục.

Nước thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cao. Nếu xả trực tiếp hoặc xử lý không đạt yêu cầu, nguồn thải có thể làm suy giảm chất lượng nước mặt, nước dưới đất, gây mùi và ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất của cộng đồng lân cận. Vì vậy, trang trại cần tách riêng dòng nước mưa và nước thải, thu gom kín, có công trình xử lý phù hợp, quan trắc theo quy định và chỉ tái sử dụng khi chất lượng đáp ứng mục đích sử dụng.

Đối với chất thải rắn, việc phân loại tại nguồn có ý nghĩa quyết định. Phân và phụ phẩm hữu cơ có thể được xử lý để tạo phân bón hoặc nguyên liệu cho các mô hình tuần hoàn, nhưng phải bảo đảm quy trình kiểm soát mầm bệnh, độ ẩm, mùi và chất lượng sản phẩm. Ngược lại, bao bì thuốc thú y, hóa chất và các loại chất thải có nguy cơ gây hại cần được thu gom riêng, lưu giữ an toàn và chuyển giao đúng quy định; không thể trộn lẫn với phân chuồng rồi xem như nguồn nguyên liệu hữu cơ.

Một yêu cầu khác thường dễ bị xem nhẹ là kiểm soát mùi và khí thải. Hệ thống thông gió, vệ sinh chuồng trại, thu gom phân thường xuyên, che chắn khu lưu chứa và xử lý khí phát sinh phải được tổ chức đồng bộ. Khoảng cách giữa khu chăn nuôi với khu dân cư, nguồn nước và các khu vực nhạy cảm cũng cần được xem xét trên cơ sở quy hoạch, điều kiện địa hình và hướng gió. Khi phát sinh phản ánh của người dân, cơ sở cần có cơ chế tiếp nhận, kiểm tra và khắc phục rõ ràng, thay vì chỉ xử lý tình huống.

Từ góc độ quản lý, cần chuyển trọng tâm từ kiểm tra hồ sơ sang đánh giá hiệu quả vận hành thực tế. Công trình xử lý có được vận hành liên tục hay không, bùn thải được chuyển đi đâu, nước sau xử lý có được sử dụng đúng mục đích, dữ liệu quan trắc có phản ánh đúng hoạt động của cơ sở hay không – đó mới là những câu hỏi quyết định mức độ tuân thủ. Công tác kiểm tra cần dựa trên rủi ro, ưu tiên cơ sở có quy mô lớn, khu vực nhạy cảm và nơi từng phát sinh phản ánh hoặc vi phạm.

Từ phát biểu tại diễn đàn đến yêu cầu hành động cụ thể

Phát biểu tại diễn đàn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thiên Văn nhấn mạnh định hướng chuyển từ phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, truyền thống sang mô hình trang trại tập trung, ứng dụng công nghệ cao và phát triển theo chuỗi giá trị. Tỉnh đồng thời đặt yêu cầu thu hút đầu tư phải gắn với an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, phát biểu tại Diễn đàn.

Thông điệp này đặt ra yêu cầu rõ ràng đối với cả cơ quan quản lý và nhà đầu tư. Địa phương cần rà soát sự phù hợp của dự án với quy hoạch, hạ tầng và khả năng tiếp nhận môi trường; công khai, minh bạch thông tin cần thiết để người dân giám sát. Doanh nghiệp phải coi chi phí bảo vệ môi trường là cấu phần bắt buộc của giá thành sản xuất, bố trí nhân lực chuyên môn và kinh phí duy tu hệ thống xử lý trong suốt vòng đời dự án.

TS. Nguyễn Trọng Tuyển, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y, trình bày tham luận về thực trạng ngành chăn nuôi và những thách thức xử lý môi trường tại diễn đàn.

Tại phần trao đổi chuyên môn, đại diện cơ quan quản lý và doanh nghiệp đã đề cập đến những khó khăn trong kiểm soát chất thải, tổ chức lực lượng thú y cơ sở, cũng như nhu cầu hoàn thiện hướng dẫn và quy chuẩn phục vụ công tác quản lý. Những kiến nghị này cho thấy bảo vệ môi trường trong chăn nuôi không thể tách rời hệ thống thú y, bởi phòng dịch, vệ sinh tiêu độc, xử lý ổ dịch và quản lý xác vật nuôi đều liên quan trực tiếp đến an toàn môi trường.

Bà Lê Hoàng Vân, đại diện Tập đoàn De Heus, tham gia trao đổi tại diễn đàn về các vấn đề trong hoạt động chăn nuôi.

Để các định hướng đi vào thực tiễn, cần xác định rõ trách nhiệm theo từng cấp và từng chủ thể. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh giữ vai trò hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và tổng hợp dữ liệu; chính quyền cơ sở cần nắm chắc địa bàn, tiếp nhận phản ánh và phối hợp giám sát; chủ trang trại chịu trách nhiệm trực tiếp về vận hành công trình, quản lý chất thải và khắc phục sự cố. Cơ chế phối hợp phải đủ rõ để không xảy ra khoảng trống trách nhiệm khi có vi phạm hoặc sự cố môi trường.

Kinh tế tuần hoàn cần được xây dựng trên nền tảng an toàn

Một hướng đi được đặt ra tại diễn đàn là tận dụng chất thải chăn nuôi sau xử lý để sản xuất phân bón hữu cơ, nước tái sử dụng và năng lượng sinh học. Với địa phương có vùng chuyên canh cà phê, sầu riêng, hồ tiêu như Đắk Lắk, liên kết giữa chăn nuôi và trồng trọt có thể tạo ra dòng vật chất khép kín hơn, giảm phụ thuộc vào một số đầu vào và hạn chế lãng phí tài nguyên.

Dẫu vậy, tuần hoàn không đồng nghĩa với đưa mọi loại chất thải trở lại sản xuất. Chỉ những dòng thải đã được xử lý, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật mới có thể tái sử dụng an toàn. Việc sử dụng phân hữu cơ chưa bảo đảm, tưới bằng nước thải không đạt chuẩn hoặc phát tán bùn thải chưa xử lý có thể khiến ô nhiễm lan rộng từ trang trại sang đất canh tác và nguồn nước. Do đó, cần có quy trình kiểm soát đầu vào – đầu ra, hướng dẫn kỹ thuật và cơ chế truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm tái chế.

Cùng với đó, liên kết chuỗi cần vượt ra ngoài quan hệ mua bán vật nuôi. Doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ chăn nuôi cần thống nhất tiêu chuẩn về con giống, thức ăn, thú y, an toàn sinh học, xử lý chất thải và truy xuất nguồn gốc. Khi tiêu chuẩn môi trường được đưa vào hợp đồng liên kết và đánh giá chất lượng sản phẩm, trách nhiệm bảo vệ môi trường sẽ trở thành yêu cầu của thị trường, không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ.

Việc phát triển cơ sở giết mổ, chế biến và vùng nguyên liệu cũng cần được đặt trong cùng một quy hoạch liên kết. Nếu sản xuất tăng nhanh nhưng khâu giết mổ, chế biến và tiêu thụ không theo kịp, chi phí logistics và rủi ro dịch bệnh, ô nhiễm có thể gia tăng. Ngược lại, chuỗi giá trị được tổ chức hợp lý sẽ giúp nâng cao giá trị sản phẩm, giảm tổn thất và tạo điều kiện đầu tư công nghệ xử lý hiện đại.

Đặt chất lượng tăng trưởng làm thước đo

Diễn đàn tại Đắk Lắk cho thấy ngành chăn nuôi khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đang đứng trước thời cơ mở rộng sản xuất, nhưng cũng phải giải quyết đồng thời nhiều sức ép về môi trường, dịch bệnh, hạ tầng và tổ chức chuỗi. Những con số về đàn vật nuôi, vốn đầu tư hay sản lượng chỉ phản ánh một phần kết quả; thước đo đầy đủ hơn phải bao gồm mức độ tuân thủ môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên, khả năng kiểm soát dịch bệnh và sự đồng thuận của cộng đồng.

Với Đắk Lắk, hướng phát triển phù hợp không phải là chạy theo số lượng dự án bằng mọi giá, mà là lựa chọn đầu tư có chất lượng, bảo đảm quy hoạch và năng lực quản lý tương xứng. Mỗi trang trại cần được xem là một mắt xích trong hệ sinh thái sản xuất nông nghiệp; mỗi quyết định mở rộng quy mô phải đi kèm phương án xử lý chất thải, phòng ngừa sự cố và trách nhiệm với khu vực xung quanh.

Khi quản trị môi trường được đặt ở vị trí trung tâm ngay từ khâu quy hoạch đến vận hành, chăn nuôi mới có thể tạo ra giá trị kinh tế ổn định, giảm xung đột với cộng đồng và đóng góp tích cực cho nông nghiệp tuần hoàn. Đó cũng là điều kiện để Đắk Lắk phát triển ngành chăn nuôi hiện đại không chỉ ở quy mô sản xuất, mà còn ở chất lượng, tính an toàn và trách nhiệm đối với môi trường sống.

VĂN HẢI

Các tin khác

Chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất tại khu vực Trung Bộ
Chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất tại khu vực Trung Bộ

MTXD - Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Công điện số 73/CĐ-TTg ngày 07/11/2026 về việc chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất tại khu vực Trung Bộ.

Sửa đổi quy định về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước
Sửa đổi quy định về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước

MTXD - Nghị định số 402/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về thẩm quyền quyết định danh mục đập, hồ chứa thủy lợi; nội dung và thẩm quyền phê duyệt phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp, góp phần làm rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý và đơn vị khai thác công trình.

Bộ Xây dựng hoàn thiện chính sách chuyển đổi xanh giao thông, không bắt buộc dùng xe thuần điện
Bộ Xây dựng hoàn thiện chính sách chuyển đổi xanh giao thông, không bắt buộc dùng xe thuần điện

MTXD - Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu các chính sách chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông vận tải phải theo hướng khuyến khích, bảo đảm quyền chủ động lựa chọn của người dân, doanh nghiệp, không đặt ra quy định bắt buộc sử dụng phương tiện thuần điện.

Huế chủ động phòng ngừa thiên tai, bảo đảm an toàn dân sinh và hạ tầng trước đợt mưa lớn
Huế chủ động phòng ngừa thiên tai, bảo đảm an toàn dân sinh và hạ tầng trước đợt mưa lớn

MTXD - TP. Huế chủ động triển khai phương án ứng phó mưa lớn, cảnh báo nguy cơ ngập lụt, lũ quét và sạt lở đất, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người dân, công trình hạ tầng và môi trường.

Yêu cầu 26 tỉnh, thành phố chủ động ứng phó với các hình thái thiên tai trong 10 ngày tới
Yêu cầu 26 tỉnh, thành phố chủ động ứng phó với các hình thái thiên tai trong 10 ngày tới

MTXD - Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia yêu cầu 26 tỉnh, thành phố theo dõi sát diễn biến thời tiết, chủ động triển khai phương án ứng phó với không khí lạnh, mưa lớn, gió mạnh trên biển và nguy cơ lũ quét, sạt lở đất trong 10 ngày tới.