Tham vấn quy hoạch Buôn Ma Thuột: Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn
MTXD - Quy hoạch chung đô thị Buôn Ma Thuột đến năm 2050 có phạm vi khoảng 37.709,7 ha, dân số dự báo 987.000 người. Trước quy mô phát triển lớn, báo cáo góp ý đề xuất ngay từ năm 2026 phải kiểm định lại dự báo dân số, xây dựng nền dữ liệu giao thông – đất đai dùng chung, phân loại dự án theo mức độ sẵn sàng và không mở rộng đô thị khi hạ tầng, nguồn vốn chưa được xác định rõ.
Buôn Ma Thuột hướng tới đô thị xanh, đa cực vào năm 2050
Theo hồ sơ lấy ý kiến cộng đồng dân cư về Quy hoạch chung đô thị Buôn Ma Thuột đến năm 2050, phạm vi nghiên cứu gồm 5 phường: Buôn Ma Thuột, Tân Lập, Tân An, Thành Nhất, Ea Kao và xã Hòa Phú, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 37.709,7 ha.
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, đây là không gian quy hoạch liên địa bàn, không còn một UBND thành phố làm đầu mối duy nhất như trước đây. Vì vậy, Tham vấn góp ý và đề xuất khung giải pháp triển khai Quy hoạch chung đô thị Buôn Ma Thuột đến năm 2050 kiến nghị UBND tỉnh Đắk Lắk xây dựng cơ chế điều phối cấp tỉnh, giao một cơ quan làm thường trực và ban hành quy chế phối hợp giữa 5 phường, 1 xã.
Tham vấn góp ý được xây dựng trên cơ sở Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 ngày 26/11/2024; Luật số 144/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026; Nghị định số 178/2025/NĐ-CP và Nghị định số 34/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Các đề xuất cũng bám Quyết định số 1589/QĐ-UBND ngày 29/5/2026 của UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 02239/QĐ-UBND ngày 4/12/2025 phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk, lấy phát triển dữ liệu số làm trọng tâm giai đoạn 2025–2030; Kế hoạch số 129/KH-UBND ngày 21/4/2026 triển khai Chiến lược dữ liệu đến năm 2030 và Kế hoạch số 284/KH-UBND ngày 30/6/2026 về phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trên địa bàn tỉnh.
Ngày 8/6/2026, Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk thông tin hồ sơ Quy hoạch chung đô thị Buôn Ma Thuột đến năm 2050 đã cơ bản hoàn thiện, đủ điều kiện tổ chức lấy ý kiến. Trong tháng 6 và tháng 7/2026, các phường, xã thuộc phạm vi quy hoạch tiếp tục công khai hồ sơ. Riêng phường Buôn Ma Thuột tổ chức lấy ý kiến cộng đồng trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày 17/7/2026.
Tuy nhiên, đây mới là hồ sơ đang lấy ý kiến, chưa phải quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Do đó, Tham vấn lưu ý dự thảo quy hoạch không thể được sử dụng làm căn cứ để thu hồi đất, hạn chế quyền xây dựng, sửa chữa, chuyển nhượng của người dân, lựa chọn nhà đầu tư hoặc cam kết ưu đãi khi chưa hoàn thành trình tự pháp luật.
Một trong những vấn đề lớn được đặt ra là dự báo dân số. Theo số liệu của hồ sơ, dân số hiện trạng năm 2024 khoảng 396.312 người, dự kiến tăng lên 987.000 người vào năm 2050, tương đương tăng khoảng 2,49 lần.
Trong tổng số dân dự báo đến năm 2050, hồ sơ nêu 548.000 người thuộc nhóm “dân số tăng tự nhiên” và 439.000 người là dân số tạm trú quy đổi. Tham vấn cho rằng cần thuyết minh cụ thể công thức, năm gốc, nguồn hình thành dân số, số người thực tế có mặt theo ngày hoặc theo mùa; tránh hiểu 548.000 người là phần dân số tăng thêm do tăng tự nhiên.
Nếu coi toàn bộ 987.000 người là dân số tương đương cư trú, tốc độ tăng dân số bình quân cần đạt khoảng 3,6% mỗi năm, trong khi hồ sơ nêu mức tăng dân số hiện trạng khoảng 1,39% mỗi năm. Sự chênh lệch này cần được kiểm định bằng ít nhất 3 kịch bản thấp, cơ sở và cao, gắn với việc làm, nhà ở, giao thông, trường học, y tế và khả năng cân đối ngân sách.
Các chỉ tiêu hạ tầng đến năm 2050 cũng được đề nghị rà soát kỹ. Hồ sơ dự kiến công suất cấp nước khoảng 600.000 m³/ngày, xử lý nước thải 385.000 m³/ngày và chất thải rắn 3.200 tấn/ngày. Nếu chia bình quân cho 987.000 người, các chỉ tiêu tương ứng khoảng 608 lít nước, 390 lít nước thải và 3,24 kg chất thải rắn/người/ngày.
Theo đó, đơn vị tư vấn cần bóc tách rõ nhu cầu dân dụng, sản xuất công nghiệp, thương mại – dịch vụ, khách vãng lai, tỷ lệ thất thoát và tiêu chuẩn áp dụng. Nếu không làm rõ, địa phương có thể đối mặt với nguy cơ đầu tư thừa công suất, gây lãng phí nguồn lực hoặc thiếu công suất khi đô thị đi vào vận hành.
Đáng chú ý, toàn khu vực quy hoạch hiện có khoảng 28.658,78 ha đất nông nghiệp, chiếm 76,07% diện tích tự nhiên. Đây không chỉ là quỹ đất sản xuất mà còn gắn với sinh kế, vùng thấm nước, cảnh quan và sức chịu tải sinh thái. Vì vậy, báo cáo nhấn mạnh không thể đồng nhất khu vực “thuận lợi xây dựng” với khu vực “nên đô thị hóa”, đồng thời không nên lấy kịch bản dân số cao làm căn cứ mặc định để mở rộng đất đô thị.
Trong phần còn lại của năm 2026, báo cáo đề xuất ban hành Chương trình thực hiện Quy hoạch chung giai đoạn 2026–2030 và Quy chế điều phối liên phường, xã theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ việc, rõ địa điểm, rõ cơ quan chủ trì, rõ đơn vị phối hợp, rõ nguồn lực và rõ thời hạn, kết quả.
Tỉnh cũng cần xây dựng nền tảng WebGIS dùng chung, ưu tiên dữ liệu giao thông, đất đai, hồ, suối và tài sản hạ tầng. Mỗi lớp dữ liệu phải xác định cơ quan chủ quản, nguồn hình thành, mức độ chính xác, thời gian cập nhật, lịch sử thay đổi và trạng thái chất lượng như “đã xác nhận”, “tạm thời”, “đang xung đột” hoặc “cần khảo sát”.
Tham vấn đề nghị lấy giao thông làm lớp dữ liệu nền số một bởi mạng đường quyết định khả năng tiếp cận, giải phóng mặt bằng, bố trí cấp nước, thoát nước, điện, viễn thông, cứu hộ và logistics. Việc kiểm kê phải làm rõ chỉ giới đường đỏ, đất dành cho đường bộ, hành lang an toàn, cầu yếu, điểm ngập, sạt lở, giao cắt nguy hiểm và tuyến cứu hộ, cứu nạn.
Theo Luật Đường bộ số 35/2024/QH15, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15, Nghị định số 165/2024/NĐ-CP và Nghị định số 241/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, dữ liệu về đất đường bộ, hành lang an toàn và chỉ giới phải được phân định rõ. Báo cáo lưu ý không sử dụng dữ liệu sơ bộ thay cho hồ sơ địa chính hoặc quyết định hành chính đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Đối với các dự án, đề xuất chia thành 4 nhóm gồm: dự án có khả năng vận hành sớm trong giai đoạn 2026–2030; dự án cần hoàn thiện điều kiện; dự án chiến lược sau năm 2030; dự án cần loại bỏ hoặc điều chỉnh. Mỗi dự án phải có mã định danh, vị trí, ranh giới, hiện trạng đất, cơ sở pháp lý, cơ quan chủ trì, nguồn vốn, tiến độ, lợi ích cộng đồng và ngưỡng dừng khi không còn hiệu quả.
Những dự án chế biến sâu, kho lạnh, logistics tại Hòa Phú và các hành lang kết nối vùng nguyên liệu được đề nghị ưu tiên nếu chứng minh được hợp đồng đầu ra, nguồn điện, nước, yêu cầu môi trường, năng lực tài chính và khả năng vận hành trong giai đoạn 2027–2030. Trong khi đó, các dự án như đường sắt, đô thị sân bay, khu liên hợp hoặc trung tâm quy mô lớn chỉ nên giữ hành lang nghiên cứu, không dùng làm lý do thu hồi đất hoặc đẩy giá đất khi chưa đủ điều kiện.
Chúng ta cũng lưu ý Nghị quyết số 72/2022/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Buôn Ma Thuột được thực hiện trong 5 năm, kể từ ngày 1/1/2023. Do đó, giai đoạn 2026–2027 là “cửa sổ chính sách” quan trọng để tổng kết hiệu quả, làm rõ phạm vi áp dụng sau sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng cơ chế kế tiếp; không mặc nhiên coi các ưu đãi sẽ tiếp tục khi chưa có căn cứ pháp lý.
Lộ trình được đề xuất chia thành 5 giai đoạn. Năm 2026 tập trung hoàn thiện nền dữ liệu, cơ chế điều phối, pháp lý và danh mục dự án. Giai đoạn 2027–2030 ưu tiên hạ tầng thiết yếu, chỉnh trang khu dân cư hiện hữu, xử lý điểm nghẽn giao thông, cấp thoát nước, chế biến, kho lạnh và logistics. Giai đoạn 2031–2035 hình thành có chọn lọc các cực tăng trưởng; giai đoạn 2036–2040 mở rộng liên kết cao nguyên – duyên hải; giai đoạn 2041–2050 tập trung tái tạo, tối ưu đô thị và phục hồi không gian xanh, mặt nước.
Tỉnh Đắk Lắk đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên và bình quân giai đoạn 2026–2030 khoảng 11%, trong khi mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 được công bố đạt 7,84%. Theo đó, Buôn Ma Thuột phải phát huy vai trò trung tâm dịch vụ, chế biến, logistics và đổi mới sáng tạo, nhưng tăng trưởng hai con số phải đến từ năng suất, giá trị gia tăng, việc làm và nguồn thu thực tế, không phải từ việc mở rộng diện tích đô thị hoặc tăng giá đất.
Quan điểm xuyên suốt được đưa ra là năm 2026 chưa nên chạy theo việc mở thêm nhiều khu đô thị. Việc cấp bách là “khóa” nền dữ liệu giao thông – đất đai – hồ suối, kiểm định lại dự báo dân số và nhu cầu hạ tầng, xác định nguồn tiền, phân loại dự án theo mức độ sẵn sàng và bảo đảm quyền lợi của người dân trong vùng quy hoạch.
Chỉ khi từng dự án trả lời rõ làm gì, làm ở đâu, ai thực hiện, vốn từ đâu, bao giờ vận hành và cộng đồng được hưởng lợi như thế nào, Quy hoạch chung đô thị Buôn Ma Thuột đến năm 2050 mới có thể chuyển từ một bản định hướng không gian thành chương trình phát triển có khả năng thực thi./.
Việt Hồng
Các tin khác
Gia Lai đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Đak Đoa hơn 2.113 tỷ đồng
MTXD - Dự án Khu công nghiệp Đak Đoa được triển khai tại xã KDang (Gia Lai), có quy mô 204 ha. Khu công nghiệp được định hướng phát triển theo mô hình đa ngành, ưu tiên thu hút các dự án chế biến sâu nông - lâm sản, công nghiệp sạch, công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ.
Gia Lai: Kiến nghị nhiều giải pháp tháo gỡ vướng mắc đối với các dự án tồn đọng kéo dài
MTXD - Thanh tra tỉnh Gia Lai vừa ban hành Kết luận thanh tra chuyên đề đối với các dự án...
Bắc Ninh công bố dự án nhà ở xã hội 714 căn hộ tại phường Vũ Ninh
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đào Quang Khải vừa ký Quyết định số 1020/QĐ-UBND công bố thông tin Dự án đầu tư xây dựng Khu nhà ở xã hội trên quỹ đất 20% thuộc đồ án QHCT Khu nhà ở Phúc Sơn, phường Vũ Ninh để hoàn trả vốn đầu tư xây đựn tuyến đường ĐT.286
TP.Huế phê duyệt quỹ đất nhà ở xã hội tại Chân Mây – Lăng Cô và Hương Thủy
MTXD - UBND thành phố Huế vừa phê duyệt 3 vị trí khu đất có tổng diện tích khoảng 9,17ha để phát triển nhà ở xã hội giai đoạn 2026–2030. Các khu đất được định hướng xây dựng công trình cao tối đa từ 9 đến 10 tầng, phục vụ nhu cầu bán, cho thuê mua và cho thuê theo quy định.
Tham vấn, góp ý quy hoạch Buôn Ma Thuột: Cần bản đồ số và “biểu tượng sống”
MTXD - Hồ sơ Quy hoạch chung đô thị Buôn Ma Thuột đến năm 2050 được kỳ vọng mở ra không gian phát triển mới cho đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên. Tuy nhiên, để việc lấy ý kiến cộng đồng thực chất, một văn bản góp ý đề nghị công khai bản đồ số, làm rõ phạm vi tác động đến đất đai, sinh kế của người d



