Góp ý xây dựng nông thôn mới: Phải “đếm đúng – ghi đủ – quản lý rõ” tài sản hạ tầng giao thông

MTXD -Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2026–2030 đang bước vào giai đoạn triển khai với yêu cầu cao hơn về chất lượng tiêu chí, đặc biệt là nhóm tiêu chí hạ tầng giao thông.

MTXD - Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2026–2030 đang bước vào giai đoạn triển khai với yêu cầu cao hơn về chất lượng tiêu chí, đặc biệt là nhóm tiêu chí hạ tầng giao thông.Tuy nhiên, từ thực tế rà soát cho thấy một “điểm nghẽn” lớn đang hiện hữu: Nhiều địa phương vẫn chưa có dữ liệu giao thông đầy đủ, chưa chuẩn hóa bản đồ, chưa xác định rõ hiện trạng tuyến và đặc biệt chưa thực hiện ghi nhận tài sản kết cấu hạ tầng (KCHT) giao thông vào sổ kế toán. Điều này khiến việc đánh giá tiêu chí giao thông trong xây dựng NTM có nguy cơ mang tính hình thức, thiếu thực chất và tiềm ẩn rủi ro pháp lý, tài chính.

Theo tài liệu triển khai Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2026–2030, nguyên tắc cốt lõi được đặt ra là: nếu chưa có số liệu giao thông và chưa quản lý tài sản KCHT giao thông trên sổ kế toán thì không thể xác định đúng hiện trạng, không thể tính chính xác tỷ lệ cứng hóa đường, không thể đánh giá đúng mức độ hoàn thành tiêu chí, đồng thời tạo ra rủi ro lớn trong công tác quản lý tài sản công, thanh tra, kiểm toán và quyết toán vốn đầu tư.

Bài toán đặt ra bắt đầu từ những câu hỏi rất cơ bản nhưng lại đang thiếu dữ liệu ở nhiều xã: toàn xã hiện có bao nhiêu tuyến giao thông nông thôn? Tổng chiều dài từng loại đường là bao nhiêu? Những tuyến nào đã được đầu tư, bằng nguồn vốn nào? Tuyến nào đã nghiệm thu, bàn giao? Đơn vị nào đang quản lý, bảo trì? Các tài sản đó đã được ghi tăng trên sổ kế toán hay chưa? Và quan trọng hơn, có đầy đủ bản đồ, ảnh hiện trạng, hồ sơ pháp lý chứng minh hay không?

Đây không đơn thuần là câu hỏi kỹ thuật. Nếu không trả lời được, hệ quả kéo theo rất rõ ràng. Không có danh mục tuyến thì không có mẫu số để tính tỷ lệ cứng hóa; không truy xuất được nguồn vốn hình thành tài sản thì không thể xác định nguyên giá; không có biên bản nghiệm thu, bàn giao thì không đủ điều kiện ghi tăng tài sản; công trình hoàn thành nhưng không ai chịu trách nhiệm quản lý sẽ dẫn đến tình trạng xuống cấp nhanh, thất thoát nguồn lực đầu tư.

Tài liệu hướng dẫn cũng chỉ rõ bộ hồ sơ tối thiểu để đánh giá tiêu chí giao thông gồm 8 nhóm chính. Thứ nhất là hồ sơ danh mục với toàn bộ tuyến đường từ xã, thôn, nội đồng đến trục chính sản xuất. Thứ hai là hồ sơ kỹ thuật thể hiện chiều dài, bề rộng, loại mặt đường, cấp kỹ thuật, hiện trạng và hệ thống thoát nước, cầu cống. Thứ ba là hồ sơ bản đồ, bắt buộc phải định vị tuyến trên nền GIS, Google Earth hoặc hệ quy chiếu VN-2000. Thứ tư là hồ sơ đầu tư gồm quyết định đầu tư, thiết kế, dự toán, nghiệm thu, quyết toán và hoàn công. Thứ năm là hồ sơ tài sản gồm biên bản bàn giao, quyết định giao quản lý, nguyên giá, nguồn vốn và thời điểm đưa vào sử dụng. Thứ sáu là hồ sơ kế toán với chứng từ ghi tăng tài sản, sổ tài sản, mã tài sản và đơn vị quản lý. Thứ bảy là hồ sơ vận hành gồm kế hoạch bảo trì, duy tu, kinh phí và người chịu trách nhiệm. Cuối cùng là hồ sơ minh chứng bằng ảnh hiện trạng, biên bản kiểm tra thực địa và xác nhận cộng đồng dân cư.

Để tháo gỡ nút thắt này, quy trình triển khai được thiết kế thành 7 bước liên hoàn. Bước đầu tiên là Sở Xây dựng ban hành biểu mẫu chuẩn hóa dữ liệu đường giao thông nông thôn (GTNT). Bước hai, UBND cấp xã tổ chức rà soát, lập danh mục toàn bộ tuyến. Bước ba là chồng ghép dữ liệu lên bản đồ số để xác định chính xác chiều dài và hiện trạng. Bước bốn là đối chiếu hồ sơ đầu tư, nghiệm thu và bàn giao với chủ đầu tư. Bước năm, đối chiếu số liệu với hệ thống kế toán tài sản. Bước sáu, phân loại tuyến theo các nhóm đạt chuẩn, chưa đạt, thiếu hồ sơ hoặc chưa có đơn vị quản lý. Và bước cuối cùng là tổng hợp, báo cáo phục vụ đánh giá tiêu chí NTM cấp tỉnh.

Việc phân loại xử lý thực tế cũng được quy định khá rõ. Với công trình có đầy đủ hồ sơ, đã ghi tăng tài sản thì đủ điều kiện đưa vào đánh giá. Với công trình đã nghiệm thu nhưng chưa ghi tăng, bắt buộc phải hoàn thiện hồ sơ kế toán. Với công trình thiếu hồ sơ bàn giao phải truy lục hồ sơ, kiểm kê hiện trạng và lập biên bản xác nhận. Những tuyến đường hình thành lâu năm nhưng không có hồ sơ nguồn vốn phải kiểm kê, xác định hiện trạng và phân loại tài sản trước khi công nhận. Đặc biệt, những số liệu báo cáo nhưng không có bản đồ, không có tuyến cụ thể thì không được công nhận. Đây là điểm siết chặt nhằm ngăn tình trạng “báo cáo đẹp” nhưng thiếu căn cứ thực địa.

Giới chuyên môn cho rằng đây là bước chuyển quan trọng từ quản lý hành chính sang quản trị dữ liệu tài sản công. Bởi trong nhiều năm, không ít địa phương chỉ tập trung làm đường để hoàn thành chỉ tiêu, nhưng lại bỏ qua khâu số hóa dữ liệu, quản lý tài sản và thiết lập hồ sơ pháp lý. Hệ quả là khi thanh tra, kiểm toán vào cuộc thì phát sinh hàng loạt bất cập như thiếu hồ sơ hoàn công, không xác định được chủ thể quản lý, không hạch toán tài sản hoặc chồng chéo nguồn vốn đầu tư.

Nguyên tắc chung được đặt ra rất rõ: dữ liệu phải đúng, đủ, rõ ràng và có minh chứng; chỉ đánh giá tiêu chí khi có hồ sơ hợp lệ và đã ghi nhận tài sản; đầu tư phải gắn với kết nối sản xuất, dân cư, trường học, y tế, chợ và vùng nguyên liệu; công trình phải có đơn vị quản lý, kế hoạch bảo trì và kinh phí duy tu; toàn bộ quá trình phải công khai, minh bạch, có sự tham gia giám sát của cộng đồng.

Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư công ngày càng siết chặt, việc “kiểm kê trước – chuẩn hóa dữ liệu – ghi nhận tài sản – xác định thiếu hụt – ưu tiên đầu tư – đánh giá tiêu chí” không chỉ là quy trình kỹ thuật mà còn là nền tảng để xây dựng nông thôn mới bền vững. Bởi suy cho cùng, muốn phát triển thực chất thì phải bắt đầu từ dữ liệu thực chất; muốn quản lý hiệu quả thì tài sản phải rõ ràng; và muốn tránh đầu tư trùng lặp, thất thoát thì mọi con đường phải được “định danh” chính xác trên bản đồ, trên hồ sơ và trên sổ sách kế toán. Đây chính là điều kiện tiên quyết để chương trình NTM giai đoạn 2026–2030 đi vào chiều sâu, tránh bệnh thành tích và bảo đảm hiệu quả đầu tư công lâu dài./.

Hồng Việt

 

 

Các tin khác

Vĩnh Long đề xuất gỡ "điểm nghẽn" tài chính cho doanh nghiệp nông nghiệp
Vĩnh Long đề xuất gỡ "điểm nghẽn" tài chính cho doanh nghiệp nông nghiệp

MTXD - Tại Hội nghị "Vĩnh Long - Chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu nông sản bền vững", lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long cho rằng việc hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính là giải pháp quan trọng để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển xuất khẩu nông sản.

Nghị quyết 21-NQ/TW: Nghiên cứu áp thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang để hạn chế đầu cơ
Nghị quyết 21-NQ/TW: Nghiên cứu áp thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang để hạn chế đầu cơ

MTXD - Nghị quyết số 21-NQ/TW định hướng hoàn thiện chính sách tài chính, thuế đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Trong đó, Trung ương nghiên cứu áp dụng mức thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng để hạn chế đầu cơ và chống lãng phí tài nguyên đất đai.

Đề xuất cấp sổ đỏ đồng thời bản giấy và bản điện tử, có giá trị tương đương
Đề xuất cấp sổ đỏ đồng thời bản giấy và bản điện tử, có giá trị tương đương

MTXD - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), đề xuất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dưới cả hai hình thức là bản giấy và bản điện tử.

Nhà ở cho thuê được định hướng trở thành trụ cột an sinh đến năm 2030
Nhà ở cho thuê được định hướng trở thành trụ cột an sinh đến năm 2030

MTXD - Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) đề xuất nhiều cơ chế ưu đãi nhằm thúc đẩy phát triển nhà ở cho thuê, từng bước hình thành thị trường ổn định, đáp ứng nhu cầu chỗ ở của người dân, giảm áp lực giá nhà, đồng thời tạo động lực phát triển thị trường bất động sản bền vững.

Đề xuất dán nhãn năng lượng cho vật liệu xây dựng, thúc đẩy phát triển công trình xanh
Đề xuất dán nhãn năng lượng cho vật liệu xây dựng, thúc đẩy phát triển công trình xanh

MTXD - Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng. Chính sách được kỳ vọng sẽ hoàn thiện hành lang pháp lý, thúc đẩy phát triển công trình xanh, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính.